Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘tuvi’

Giáp (+) Ất (-) Mộc
Bính (+) Đinh (-) Hỏa
Mậu (+) Kỷ (-) Thổ
Canh (+) Tân (-) Kim
Nhâm (+) Quý (-) Thủy
Tí (+) Hợi (-) Thủy
Dần (+) Mão (-) Mộc
Ngọ (+) Tỵ (-) Hỏa
Thân (+) Dậu (-) Kim
Thìn Tuất (+) Sửu Mùi (-) Thổ

Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy.

Khắc thì Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim .
Nguyên tắc là mình là chính, nếu mình được sinh thì tốt, bị khắc thì xấu nhứt, mình sinh (sinh xuất) thì mệt nhọc.. Mình khắc ra (khắc xuất) thì khá tốt.Còn lại thì bình hòa.

Advertisements

Read Full Post »

Vận và Mệnh

Vạn sự trên đời đều biến dịch, hôm nay không giống với hôm qua và sẽ khác xa ngày mai…Bởi vậy “Mệnh là tính cách của người. Vận là sự tao ngộ giữa người với hoàn cảnh. Tính cách thì định trước, nhưng tao ngộ thì tùy thời tùy thế mà biến”.

Read Full Post »

Trong cuốn Khoa học chẩn đoán tâm lý – PGS.TS Trần Trọng Thuỷ đã cho biết ngay từ năm 1949 G.Allpon đã dẫn ra 50 định nghĩa khác nhau về nhân cách. Ngày nay, có tới hàng trăm định nghĩa tuỳ theo quan điểm của người phương Đông và phương tây.

Người phương Tây tôn sùng tiến bộ văn minh vật chất, không quan tâm nhiều đến phẩm chất.

Tư tưởng phương Đông cổ đại về nhân cách cho rằng thể hiện chủ yếu ở học thuyết Kinh dịch âm dương ngũ hành, học thuyết của Khổng Tử về Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín…
Các nhà Triết học phương Đông cổ đại nhìn nhận con người là tiểu vũ trụ, mang những đặc tính của vũ trụ. Những đặc tính này chi phối sự phát triển con người. Con người liên hệ với vũ trụ bao la nên con người cần biết được các thông tin của vũ trụ. Thực thể con người là sản phẩm của nguyên lý âm dương, vừa đối lập vừa thống nhất, chứa đựng và chuyển hoá lẫn nhau: Trời – Đất – Người hợp thành một (Thiên – Địa – Nhân hợp nhất).

Mạnh Tử nhận xét : Khi phát triển hết mình, con người có thể biết trời mà còn hợp nhất với trời làm một.
Tính cách của con người chịu ảnh hưởng của ngũ hành và chia ra loại người: Kim, Hoả, Thổ, Mộc, Thuỷ.

Người mệnh Kim ăn ở có nghĩa khí, nếu Kim vượng thì tính cách cương trực.

Người mệnh Hoả thì lễ nghĩa, đối với mọi người nhã nhặn, lễ độ, thích nói lý luận; nhưng nếu Hoả vượng thì nóng nảy, vội vã, dễ hỏng việc.

Người mệnh Thổ trọng chữ tín, nói là làm – nếu Thổ vượng thì hay trầm tĩnh, không năng động, dễ bỏ thời cơ.

Người mệnh Mộc hiền từ, lương thiện, độ lượng – Mộc vượng thì tính cách bất khuất.

Người mệnh Thuỷ thì khúc khuỷu, quanh co, nhưng thông suốt – nếu Thuỷ vượng thì tính tình hung bạo, dễ gây tai hoạ.

Người phương Đông đánh giá con người qua chất là chủ yếu, lượng là phụ – lấy “Tâm thiện” là lý tưởng, đề cao tính thiện, tính nhân, thích sự im lặng, nhẹ nhàng và luôn đề cao sự cân bằng không thái quá. Mọi tu nhân, xử thế, chính trị đều hướng tới Thiện. Biết đủ là giàu, giản dị ở vật chất, giản dị trong nội tâm, trong ngôn từ, trong quan hệ với mọi người.
Khổng Tử quan niệm về nhân cách con người thể hiện ở Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Trong đó Nhân là gốc và chỉ có người “Đại nhân” mới có Nhân.

Trên đây là những nét sơ lược về tư tưởng phương Đông cổ đại có liên quan đến nhân cách con người. Nói lên hoàn cảnh và phương thức sống của con người phương Đông. Tuy vậy, đây chưa phải là những quan điểm, học thuyết về nhân cách.

Ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong cuốn Tâm lý học nhân cách thì chưa có định nghĩa nhân cách nào một cách chính thống. Song cách hiểu của người Việt Nam về nhân cách có thể theo các mặt sau đây:
1. Nhân cách được hiểu là con người có đức và tài hay là tính cách và năng lực hoặc là con người có các phẩm chất : Đức, trí, thể, mỹ, lao (lao động).
2. Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và năng lực của con người
3. Nhân cách được hiểu như phẩm chất của con người mới: Làm chủ, yêu nước, tinh thần lao động cống hiến.
4. Nhân cách được hiểu như mặt đạo đức, giá trị làm người của con người. Theo cách hiểu này, tác giả Nguyễn Quan Uẩn trong cuốn tâm lý học đại cương (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội) nêu lên định nghĩa nhân cách như sau:
Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người. Nhân cách là sự tổng hoà không phải các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý – xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân.
Đây là định nghĩa về nhân cách được chấp nhận rộng rãi ở Việt Nam.
Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, như triết học, xã hội học, kinh tế – chính trị học, luật học, tâm lý học, y học, giáo dục học và cả Lý số học nữa…

Có thể nói Nhân cách chính là “cái tôi, cái bản ngã” của mỗi cá nhân, là đời sống tâm sinh lý, là những năng lực, những phẩm chất con người có được trong đời sống cộng đồng – với tư cách chủ thể, giúp họ có khả năng tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định, tự điều chỉnh, tự chịu trách nhiệm những hoạt động, những hành vi của chính mình và hơn nữa tự nhận thức về bản thân mình cả trong hiện tại và tương lai.

Nhân cách là sự thống nhất biện chứng, tổng hoà mối quan hệ giữa con người và xã hội…
Khi bắt đầu bước vào cuộc sống, con người mới chỉ là một cá nhân chưa phải là một nhân cách. Trong quá trình vận động tồn tại, nhân cách dần dần được hình thành, phát triển và hoàn thiện.

Những yếu tố sau đây góp phần hình thành phát triển nhân cách :

1 – Yếu tố di truyền, bẩm sinh, đặc điểm sinh lý giải phẫu của cơ thể và nhất là hệ thần kinh, nội tiết . Những yếu tố sinh vật này chính là TIỀN ĐỀ, CƠ SỞ VẬT CHẤT.

2 – Yếu tố xã hội môi trường hoàn cảnh sống (như đất đai, sông núi, khí trời, dân tộc, tôn giáo, kinh tế, chính trị…) đã ẢNH HƯỞNG QUAN TRỌNG

3 – Yếu tố Giáo dục đóng vai trò CHỦ ĐẠO

4 – Ý thức hoạt động cá nhân giữ vai trò QUYẾT ĐỊNH

Vậy lá số Tử vi, những cách cục, ý nghĩa các sao trong Mệnh Thân của đương số thì sao ? Liệu nó có giá trị để chúng ta tham khảo khi đánh giá về nhân cách một con người hay không ? Có chứ và còn rất hữu ích giúp ta khi muốn hiểu sâu về cá nhân nào đó. Riêng điều này, có lẽ tất cả những hội viên trên diễn đàn còn thông thái hơn tôi rất nhiều…

Thiết nghĩ rằng, nếu tạm ghép lồng cái mảng lý số vào 4 yếu tố mà môn Tâm lý học đã nêu ra ở trên, thì tôi cho rằng lá số Tử vi của một con người nên đưa vào yếu tố 1 (di truyền bẩm sinh). Tuy hơi khập khiễng những vẫn là khả dĩ nhất… bởi suy cho cùng Số Mệnh – lá số Tử vi cũng chính là TIỀN ĐỀ, CƠ SỞ cho ta bước vào đời. Theo quan điểm của người xưa: Âm dương ngũ hành là khí. Can chi năm/ tháng/ ngày/ giờ sinh tượng trưng cho khí âm dương trong đục của trời đất, con người sống giữa trời đất do tạo hoá tạo nên, vì vậy con người cùng khí với trời đất. Con người sinh ra trao đổi khí bẩm sinh với đại vũ trụ quanh mình và sống được nhờ thở khí – khí người, khí trời đất giao quyện, tác động qua lại tạo ra vận mệnh của mỗi người, do phân lượng khí âm dương lúc ta cất tiếng khóc chào đời thụ đắc khác nhau nên vận mệnh mỗi người khác nhau. Thông qua các vận trình trong cuộc đời để chỉ ra mối quan hệ giữa hoàn cảnh sống cá nhân với sự biến đổi của vụ trụ có cân bằng hay không, phản ánh được cát hung hoạ phúc của từng giai đoạn cụ thể .
Gửi bởi MoKhach at TVLS

Xét trong Tứ Trụ
Tứ trụ nếu

Mộc quá nhiều thì tà quái, suy nghĩ đôi khi cố chấp , đâu khác gì Đào Hoa + Tham Lang đầy dục khí tồn tại não !

Kim quá nhiều thì hung hăng sát phạt Thát Sát + Kinh Duơng + Hổ

Hỏa quá nhiều quá nguyên tắc nên cố chấp Liêm + KK

Thủy quá nhiều thì sa lầy thị phi Cự Môn + Kỵ

Thổ quá nhiều thì khép kín thủ cựu Lộc Tồn
Gửi bởi HC at TVLS

Read Full Post »